11
/
202918
Từ giảng đường đến việc làm: Khoảng trống trong hướng nghiệp và đào tạo
tu-giang-duong-den-viec-lam-khoang-trong-trong-huong-nghiep-va-dao-tao
news

Từ giảng đường đến việc làm: Khoảng trống trong hướng nghiệp và đào tạo

Thứ 5, 05/11/2026 | 07:13:11
82 lượt xem

Thị trường lao động liên tục thay đổi, nhưng bằng cấp chưa đồng nghĩa với khả năng đáp ứng công việc. Khoảng cách giữa kiến thức trên giảng đường và yêu cầu thực tế đặt ra đòi hỏi đổi mới hướng nghiệp, chương trình đào tạo và cách thức hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp.

Từ giảng đường đến việc làm: Khoảng trống trong hướng nghiệp và đào tạoSinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng) trong một kỳ thực tập tại doanh nghiệp.  Ảnh: NTCC

Người trẻ vẫn khó tìm việc làm

Tốt nghiệp cao đẳng, đại học từng được xem là lợi thế quan trọng để bước vào thị trường lao động. Tuy nhiên, dưới tác động của công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI), tấm bằng không còn là bảo đảm duy nhất cho cơ hội việc làm. Người học ngày càng phải chứng minh khả năng vận dụng kiến thức, giải quyết vấn đề và thích nghi với môi trường làm việc thực tế.

Theo thông cáo về tình hình lao động, việc làm quý III và 9 tháng năm 2026 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý III đạt khoảng 54,1 triệu người, trong đó gần 53 triệu người có việc làm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ mới đạt khoảng 30,4%. Những con số này cho thấy yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vẫn rất cấp thiết. Có việc làm chưa đồng nghĩa với việc người lao động được làm đúng chuyên môn, phát huy năng lực hoặc có cơ hội phát triển nghề nghiệp.

Với sinh viên mới tốt nghiệp, thách thức còn nằm ở khoảng cách giữa những gì được học và những gì doanh nghiệp cần. Báo cáo Vietnam Employability Report 2026 do Đại học Anh quốc Việt Nam (BUV) phối hợp với Decision Lab thực hiện, dựa trên khảo sát 375 doanh nghiệp trong nước và quốc tế cùng các cuộc phỏng vấn chuyên sâu, cho thấy sinh viên mới tốt nghiệp chưa đáp ứng kỳ vọng của nhà tuyển dụng ở 6 trong 7 nhóm năng lực được khảo sát. Những khoảng cách đáng chú ý nằm ở quản lý thời gian, giải quyết vấn đề, giao tiếp và khả năng thích ứng. Năng lực số là lĩnh vực sinh viên nhìn chung đáp ứng được kỳ vọng.

Kết quả này cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở kiến thức chuyên môn. Một sinh viên có thể nắm vững lý thuyết nhưng vẫn lúng túng khi sắp xếp công việc, xử lý tình huống phát sinh, phối hợp với đồng nghiệp hoặc trao đổi với khách hàng. Đó là những năng lực khó hình thành nếu quá trình học tập chủ yếu dừng ở tiếp nhận kiến thức và làm bài kiểm tra.

Bà Ngô Thị Ngọc Lan, đại diện Navigos Search, cho rằng doanh nghiệp không nhất thiết đòi hỏi sinh viên mới ra trường phải có kinh nghiệm dày dặn hay chuyên môn vượt trội ngay từ đầu. Điều họ quan tâm còn là thái độ, tinh thần cam kết, sự bền bỉ và khả năng theo đuổi công việc đến cùng.

Thu hẹp khoảng cách bằng kết nối thực chất

Một trong những nguyên nhân khiến sinh viên gặp khó khăn khi bước vào thị trường lao động là sự khác biệt về nhịp độ giữa đào tạo và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Chương trình học cần thời gian xây dựng, thẩm định và triển khai, trong khi công nghệ, mô hình kinh doanh và yêu cầu công việc thay đổi nhanh chóng. Nếu thiếu sự cập nhật thường xuyên từ thực tiễn, kiến thức và kỹ năng mà người học được trang bị có thể chưa theo kịp nhu cầu tuyển dụng.

PGS.TS Lê Hiếu Học, Trưởng khoa Khoa học và Công nghệ Giáo dục, Đại học Bách khoa Hà Nội, cho biết nhiều doanh nghiệp phải dành từ 3-6 tháng để đào tạo lại và giúp nhân sự mới hòa nhập môi trường làm việc. Thậm chí, có trường hợp người lao động không đáp ứng yêu cầu hoặc không thích nghi được với văn hóa doanh nghiệp. Chi phí đào tạo lại vì thế trở thành gánh nặng cho doanh nghiệp, đồng thời phản ánh những hạn chế trong quá trình chuẩn bị nghề nghiệp cho sinh viên.

Ở các ngành kỹ thuật, yêu cầu này càng rõ khi công nghệ liên tục thay đổi. GS.TS Bùi Tiến Thành, Trưởng khoa Công trình, Trường Đại học Giao thông vận tải, cho rằng đào tạo kỹ sư cần gắn với thực tiễn và sự vận động của công nghệ. Những công nghệ như mô hình thông tin công trình (BIM), AI và các công cụ quản lý dữ liệu hiện đại đang làm thay đổi cách thức thiết kế, thi công và quản lý công trình. Sinh viên vì vậy cần có cơ hội tiếp cận, thực hành và trải nghiệm những công nghệ đang được ứng dụng trong ngành.

Vấn đề không dừng ở việc trang bị kỹ năng để sinh viên đáp ứng một vị trí tuyển dụng. PGS.TS Hoàng Tùng, Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, chỉ ra rằng khoảng cách giữa cơ sở đào tạo, đơn vị nghiên cứu và doanh nghiệp còn thể hiện ở những lĩnh vực đòi hỏi công nghệ cao như xây dựng, đường sắt và đường sắt đô thị. Các dự án đầu tư hạ tầng chứa đựng nhiều cơ hội nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ, nhưng nếu hoạt động xây dựng tách rời với nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, giảng viên, nhà khoa học và sinh viên sẽ khó tham gia sâu vào thực tiễn.

Theo ông, nhà trường và doanh nghiệp cần có quan hệ hợp tác hai chiều, trong đó doanh nghiệp vừa là nơi tiếp nhận nhân lực, vừa là môi trường để giảng viên, nhà khoa học và sinh viên tiếp cận công nghệ, tích lũy kinh nghiệm. Nhà trường cũng cần từng bước nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ phù hợp, thay vì đặt mục tiêu bao quát mọi lĩnh vực ngay từ đầu.

PGS.TS Huỳnh Đăng Chính, Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, nhấn mạnh hợp tác doanh nghiệp không chỉ mở ra cơ hội việc làm cho sinh viên mà còn tạo cơ chế phản hồi để nhà trường điều chỉnh mục tiêu và chương trình đào tạo theo yêu cầu thực tiễn.

Để mối liên kết này đi vào chiều sâu, doanh nghiệp cần tham gia thường xuyên hơn vào việc xây dựng chương trình, chia sẻ chuyên gia, công nghệ và bài toán thực tế; nhà trường cần chủ động tiếp nhận phản hồi, cập nhật kiến thức và tổ chức đào tạo gắn với yêu cầu nghề nghiệp. Đặc biệt, chương trình thực tập phải có mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể và người hướng dẫn, tạo điều kiện để sinh viên trực tiếp tham gia công việc, thay vì chỉ quan sát hoặc đảm nhận những phần việc đơn giản.

Về phía người học, chủ động tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và tìm hiểu yêu cầu nghề nghiệp cũng là điều cần thiết. Một nền tảng kiến thức tốt vẫn có ý nghĩa lâu dài, nhưng cần được bổ sung bằng khả năng vận dụng và thích nghi. Thu hẹp khoảng cách giữa giảng đường và việc làm vì thế là trách nhiệm chung của nhà trường, doanh nghiệp và chính sinh viên. Khi ba bên thực sự đồng hành, tấm bằng mới có thể trở thành nền tảng cho năng lực nghề nghiệp, thay vì chỉ là điều kiện ban đầu để bước vào thị trường lao động.

Theo Thu Hương/daidoanket.vn

https://daidoanket.vn/tu-giang-duong-den-viec-lam-khoang-trong-trong-huong-nghiep-va-dao-tao.html

  • Từ khóa

4 tỉnh, thành công bố xét học bạ vào lớp 10 năm 2027

Huế, An Giang, Lâm Đồng và Cà Mau công bố phương án tuyển sinh lớp 10 năm 2027, trong đó trường công lập hệ đại trà chủ yếu xét tuyển học bạ, trường...
08:13 - 05/11/2026
48 lượt xem

Xử lý nghiêm bạo lực học đường, rà soát quy định kỷ luật học sinh

Trước những vụ bạo lực học đường, trong đó có tình trạng học sinh hành hung giáo viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) khẳng định sẽ kiên quyết xử lý nghiêm...
13:51 - 04/11/2026
80 lượt xem

Thu gọn phương thức xét tuyển trong tuyển sinh đại học

Từ mùa tuyển sinh năm 2027, Bộ GDĐT dự kiến sẽ thu gọn các phương thức xét tuyển đại học. Điều chỉnh này cũng đòi hỏi các trường rà soát lại cách đánh giá...
12:44 - 04/11/2026
122 lượt xem

Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh giữ vững vị thế Top 380 trường đại học hàng đầu Châu Á trên bảng xếp hạng QS Asia 2027

Tổ chức Giáo dục Quacquarelli Symonds (QS) vừa chính thức công bố kết quả Bảng xếp hạng các trường đại học hàng đầu khu vực Châu Á năm 2027 (QS World...
11:11 - 04/11/2026
102 lượt xem

Thông tư 85: Phân định rõ hoạt động giáo dục tăng cường và theo nhu cầu

Quy định hoạt động giáo dục tăng cường không thu tiền học sinh nhận được sự đồng tình của phụ huynh. Tuy nhiên, việc phân định với các chương trình theo...
10:58 - 04/11/2026
85 lượt xem
pixel