BTV- Tôi làm dịch vụ cầm đồ có nhận cầm cố sổ hồng của khách vay để cho vay số tiền là 300.000.000 đồng mà không công chứng. Hiện tại, khách vay đã đi làm lại sổ hồng mới, nay tôi muốn kiện khách vay để đòi nợ được không? Xin Luật sư tư vấn cho bạn đọc.
Luật sư Nguyễn Thị Phong Lan (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội), Giám đốc Công ty Luật TNHH Intelico giải đáp về vấn đề này như sau:
![]() Luật sư Nguyễn Thị Phong Lan |
1.1. Về giá trị pháp lý của sổ hồng
Hiện nay, không có một văn bản pháp luật nào quy định về khái niệm sổ hồng. Theo đó, “sổ hồng” là tên gọi thông dụng của người dân để chỉ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (Do bìa sổ có màu hồng).
Căn cứ khoản 21 Điều 3 Luật Đất đai năm 2024 thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.
Khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”. Theo quy định trên, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là chứng thư pháp lý/giấy tờ pháp lý mà không phải là tiền, không phải là giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu, ...) và không phải là quyền tài sản.
Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mới được xem là tài sản theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Do đó, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất không được xem là tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
1.2. Về việc nhận cầm cố sổ hồng
Khoản 4 Điều 3 Nghị định 96/2016/NĐ-CP quy định: “Kinh doanh dịch vụ cầm đồ, gồm: Kinh doanh dịch vụ cho vay tiền mà người vay tiền phải có tài sản hợp pháp mang đến cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ để cầm cố.”.
Về bản chất giao dịch, hoạt động cầm đồ chính là việc thực hiện biện pháp bảo đảm “cầm cố tài sản” theo Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo quy định tại Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Tuy nhiên, theo như phân tích tại mục 1.1 thì sổ hồng không phải là tài sản nên không phải là đối tượng của giao dịch cầm cố tài sản. Do đó, người vay không được cầm cố “sổ hồng” để vay tiền nên giao dịch cầm cố sổ hồng tại cửa hàng cầm đồ là không được phép và có thể bị vô hiệu theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu là các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
1.3. Về việc khởi kiện đòi nợ
Theo thông tin bạn cung cấp, bạn đã nhận cầm cố sổ hồng để cho vay với số tiền 300.000.000 đồng. Đây thực chất là giao dịch vay tiền và các bên đã nhầm lẫn sổ hồng là tài sản nên các bên đã thỏa thuận dùng sổ hồng để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ.
Trường hợp đến hạn trả nợ mà người vay không trả nợ thì bạn có thể làm đơn khởi kiện yêu cầu thanh toán khoản nợ gửi đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền (Xác định là Tòa án nhân dân khu vực tại địa chỉ nơi người vay cư trú theo khoản 3 Điều 26, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/06/2025).
Bạn nộp kèm theo đơn khởi kiện các tài liệu, chứng cứ chứng minh việc cho vay như: căn cước công dân của người vay; biên bản giao nhận tiền; sao kê tài khoản chuyển tiền, giấy đòi nợ, …
Lưu ý: Trường hợp bạn là bên cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự và đã thu lợi số tiền lãi vượt quá mức lãi suất vay cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự từ 30.000.000 đồng trở lên thì bạn có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Duy Phách