BTV- Bạn đọc có hỏi: Khi vi phạm quy định về sử dụng dao có tính sát thương cao xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác thì phải chịu trách nhiệm pháp lý như thế nào? Xin Luật sư tư vấn giúp!
Căn cứ trên yêu cầu tư vấn, Luật sư Nguyễn Thị Phong Lan (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội), Giám đốc Công ty Luật TNHH Intelico -Hà Nội giải đáp về vấn đề này như sau:
![]() Luật sư Nguyễn Thị Phong Lan |
1. Khái niệm “dao có tính sát thương cao”
Khoản 6 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 quy định: “Dao có tính sát thương cao là dao sắc, dao nhọn thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành.”. Phụ lục 5 ban hành kèm theo Thông tư 75/2024/TT-BCA của Bộ trưởng Bộ Công an có hiệu lực từ ngày 01/01/2025 đã quy định Danh mục dao có tính sát thương cao gồm: Dao sắc, nhọn; Dao sắc; Dao gấp, dao bấm; Dao tự chế hoặc hoán cải (Có mô tả về cấu tạo, đặc điểm cơ bản của từng loại và hình ảnh minh họa kèm theo tại Phụ lục 5 Thông tư 75/2024/TT-BCA).
2. Xác định hành vi vi phạm khi sử dụng dao có tính sát thương cao
Căn cứ điểm d khoản 2, điểm b khoản 4 Điều 2 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 thì dựa trên mục đích của việc sử dụng dao có tính sát thương cao để phân loại như sau:
- Dao có tính sát thương cao sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật được liệt kê vào danh mục vũ khí quân dụng.
- Dao có tính sát thương cao sử dụng với mục đích để thực hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công vụ (trừ trường thuộc danh mục vũ khí quân dụng) được liệt kê vào danh mục vũ khí thô sơ.
Theo đó, hành vi vi phạm khi sử dụng dao có tính sát thương cao là hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật hoặc để thực hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công.
Việc sử dụng “dao có tính sát thương cao” phục vụ mục đích lao động, sản xuất, sinh hoạt hằng ngày thì không bị coi là hành vi vi phạm khi sử dụng dao có tính sát thương cao nhưng phải được quản lý chặt chẽ, bảo đảm an toàn, nhằm phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ sử dụng vào mục đích vi phạm pháp luật.
3. Hậu quả pháp lý
a. Về xử phạt vi phạm hành chính
Trường hợp hành vi vi phạm chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì hành vi sử dụng trái phép vũ khí thô sơ/vũ khí quân dụng sẽ bị xem xét xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 4, khoản 5 Điều 11 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, với mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng (còn hiệu lực đến ngày 14/12/2025). Từ ngày 15/12/2025, hành vi sử dụng trái phép vũ khí thô sơ/vũ khí quân dụng sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 4, khoản 5 Điều 12 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, với mức phạt từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Ngoài ra, người vi phạm còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật.
Lưu ý: Từ ngày 15/12/2025, người có hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao trong lao động, sản xuất, sinh hoạt nhưng không thực hiện các biện pháp quản lý, bảo quản để người khác lợi dụng sử dụng vào mục đích trái pháp luật sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 1 Điều 14 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, với mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.
b. Về truy cứu trách nhiệm hình sự
Việc sử dụng dao có tính sát thương cao với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật có thể bị xem xét xử lý hình sự về:
- Hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người theo Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Ví dụ: Tội Cố ý gây thương tích quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 hoặc Tội Giết người quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015)
- Hành vi “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Vì vậy, việc dùng dao có tính sát thương cao xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người khác có thể bị xử lý về hai tội cùng lúc là: Tội “Cố ý gây thương tích”/tội ”Giết người” và tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Lưu ý: Căn cứ Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cơ quan điều tra không tiến hành khởi tố đối với người thực hiện hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 khi bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
Duy Phách