BTV - Bạn đọc Báo và Phát thanh, Truyền hình Bắc Ninh hỏi: Quy định pháp luật liên quan đến hóa đơn, chứng từ trong mua bán vàng miếng và việc áp dụng biện pháp tịch thu vàng miếng được quy định như thế nào?
Luật sư Nguyễn Thị Phong Lan (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội), Giám đốc Công ty Luật TNHH Intelico giải đáp về nội dung này như sau:
![]() Luật sư Nguyễn Thị Phong Lan |
I. Căn cứ
- Nghị định 340/2025/NĐ-CP;
II. Ý kiến pháp lý
1. Về thông tin tịch thu vàng miếng không có hóa đơn kể từ ngày 09/02/2026
Nghị định số 340/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 09/02/2026, quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, trong đó có các hành vi vi phạm liên quan đến hoạt động kinh doanh vàng.
Tuy nhiên, nội dung Nghị định 340/2025/NĐ-CP không có bất kỳ quy định nào cho phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền tịch thu vàng miếng của người dân vì lý do không còn giữ hóa đơn mua bán vàng.
Theo nguyên tắc chung của pháp luật, quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân (bao gồm vàng miếng) được pháp luật bảo vệ. Tại Nghị định 340/2025/NĐ-CP, việc tịch thu tài sản chỉ được áp dụng trong trường hợp tài sản đó được xác định là tang vật, phương tiện của hành vi vi phạm pháp luật cụ thể, chẳng hạn như: buôn lậu, kinh doanh vàng trái phép, nhập khẩu hoặc xuất khẩu vàng không có giấy phép, hoặc các hành vi vi phạm khác được pháp luật quy định rõ.
Do đó, thông tin cho rằng từ ngày 09/02/2026, người dân sở hữu vàng miếng không có hóa đơn sẽ bị tịch thu là không có căn cứ pháp lý, là thông tin sai sự thật và gây hoang mang trong dư luận.
2. Quy định về xử lý vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng
2.1. Đối tượng áp dụng
Căn cứ tại Điều 1, Điều 2 Nghị định 340/2025/NĐ-CP, các đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, bao gồm:
- Cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
- Tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, bao gồm:
+ Tổ chức tín dụng; chi nhánh, phòng giao dịch, văn phòng đại diện, đơn vị sự nghiệp ở trong nước của tổ chức tín dụng; chi nhánh ngân hàng nước ngoài; văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng;
+ Doanh nghiệp; đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp (chi nhánh, văn phòng đại diện);
+ Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; đơn vị trực thuộc của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã (chi nhánh, văn phòng đại diện);
+ Các tổ chức khác được thành lập, hoạt động tại Việt Nam.
Theo đó, đối tượng điều chỉnh chủ yếu của Nghị định là các tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh vàng, không phải người dân sở hữu vàng miếng với mục đích tích trữ, cất giữ hoặc giao dịch dân sự thông thường.
2.2. Các hành vi bị áp dụng biện pháp tịch thu vàng
Theo điểm a khoản 9 Điều 28 Nghị định 340/2025/NĐ-CP, biện pháp xử lý bổ sung tịch thu vàng chỉ được áp dụng đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 8 Điều này, bao gồm:
- Sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng nhưng không có giấy phép sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng;
- Thực hiện xuất khẩu hoặc nhập khẩu vàng nguyên liệu, vàng miếng không có giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật;
- Hoạt động kinh doanh vàng khác khi chưa được cấp có thẩm quyền cấp giấy phép theo quy định của pháp luật.
2.3. Trường hợp người dân mua vàng tại cửa hàng bị xử lý vi phạm
Trường hợp cơ sở kinh doanh vàng miếng không có giấy phép bị cơ quan có thẩm quyền phát hiện, bắt quả tang, thì toàn bộ số vàng miếng tại cơ sở kinh doanh vàng miếng không được cấp phép theo quy định tại Điều 28 Nghị định 340/2025/NĐ-CP. Tuy nhiên, trong trường hợp bị kiểm tra ngay tại thời điểm giao dịch, số vàng này có thể bị tạm giữ để xác minh nguồn gốc và tính hợp pháp của giao dịch.
Đối với người dân đã hoàn tất giao dịch và mang vàng ra khỏi cửa hàng, không xem xét vấn đề tịch thu với người mua, do người dân khó có khả năng kiểm tra cơ sở bán vàng có giấy phép kinh doanh hay không.
Lưu ý: Người dân cần phải thực hiện mua tại các cửa hàng được cấp phép do người dân bán lại vàng có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Mua, bán vàng miếng tại doanh nghiệp không có Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng” theo điểm a khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 28 Nghị định 340/2025/NĐ-CP, với mức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng; đồng thời, số vàng liên quan có thể bị xem xét là tang vật vi phạm để áp dụng biện pháp tịch thu theo quy định.
2.4. Thẩm quyền xử lý
Theo Điều 63, Điều 64 Nghị định 340/2025/NĐ-CP, thẩm quyền áp dụng biện pháp tịch thu tang vật trong lĩnh vực này thuộc về:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp.
- Trưởng Công an cấp xã.
Không có quy định nào cho phép lực lượng chức năng tự ý kiểm tra tư gia và tịch thu vàng nếu không có căn cứ chứng minh hoạt động phạm tội hoặc vi phạm hành chính quả tang.
Như vậy, có thể thấy không có bất kỳ quy định nào về việc từ 9/2/2026, Công an có quyền tịch thu vàng nếu không có hóa đơn mà chỉ có quy định áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu vàng đối với các hành vi vi phạm nêu trên.
III. Đề xuất
Trên cơ sở quy định và phân tích nêu trên, Công ty Luật TNHH Intelico – Hà Nội trân trọng đề xuất Quý Khách hàng một số khuyến nghị như sau:
1. Khách hàng đang sở hữu vàng miếng có thể cất giữ, sử dụng tài sản hợp pháp của mình; việc không còn hóa đơn mua bán không làm phát sinh nguy cơ bị tịch thu vàng.
2. Khi thực hiện mua bán vàng miếng, Khách hàng cần thực hiện giao dịch tại các tổ chức được phép kinh doanh vàng uy tín và lưu giữ chứng từ giao dịch (nếu có) để bảo vệ quyền lợi hợp pháp tối đa.
Duy Phách