BTV- Quy định pháp luật về thủ tục đặt tiền xin tại ngoại của bị can và hậu quả pháp lý khi bị can vi phạm những nghĩa vụ đã cam kết trong giấy cam đoan xin tại ngoại như thế nào? Đây là nội dung bạn đọc Báo và Phát thanh, Truyền hình Bắc Ninh hỏi. Xin Luật sư tư vấn giúp!
Căn cứ vào nội dung bạn đọc Báo và Phát thanh, Truyền hình Bắc Ninh hỏi: Luật sư Nguyễn Thị Phong Lan (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội), Giám đốc Công ty Luật TNHH Intelico giải đáp về nội dung này như sau:

Luật sư Nguyễn Thị Phong Lan
I.Căn cứ
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Thông tư liên tịch 01/2026/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP (“Thông tư liên tịch số 01”);
- Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-BCA-BQP-BTC-VKSNDTC-TANDTC (“Thông tư liên tịch số 06”).
II.Ý kiến pháp lý
1.Quy định pháp luật về thủ tục đặt tiền xin tại ngoại của bị can
Về biện pháp đặt tiền để bảo đảm, Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định đặt tiền để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ hoặc người thân thích của họ đặt tiền để bảo đảm.
Bị can, bị cáo, người thân thích của bị can, bị cáo hoặc người đại diện của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có Đơn đề nghị bằng văn bản với cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án về việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm đối với bị can, bị cáo trừ trường hợp không cho phép áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm quy định tại khoản 2 Điều 7 Thông tư liên tịch số 06 như Bị can, bị cáo dùng thủ đoạn xảo quyệt, phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Căn cứ Điều 22 Thông tư liên tịch số 01, việc cho phép bị can tại ngoại thông qua hình thức đặt tiền không phải là thủ tục tự động mà phải trải qua quá trình xét duyệt chặt chẽ. Theo đó, khi Cơ quan điều tra quyết định áp dụng biện pháp này, ngay lập tức phải chuẩn bị hồ sơ theo quy định gửi Viện kiểm sát có thẩm quyền đề nghị xét phê chuẩn.
Hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm gồm:
- Văn bản đề nghị xét phê chuẩn và quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm;
- Chứng cứ, tài liệu thể hiện tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can;
- Tài liệu xác định bị can hoặc người thân thích của bị can đã đặt tiền để bảo đảm;
- Giấy cam đoan của bị can về việc cam đoan thực hiện các nghĩa vụ quy định tại khoản 2 Điều 122 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Giấy cam đoan của người thân thích của bị can theo quy định tại khoản 5 Điều 122 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đối với trường hợp người thân thích của bị can đặt tiền để bảo đảm.
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn. Trường hợp hồ sơ chưa rõ ràng hoặc chưa đầy đủ, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung tài liệu để có căn cứ xem xét.
Trường hợp vụ án đã kết thúc điều tra và chuyển sang giai đoạn truy tố, nếu Viện kiểm sát thấy cần thiết vẫn có thể ra quyết định tiếp tục áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm. Thời hạn đặt tiền để bảo đảm không quá thời hạn quyết định việc truy tố, tính từ ngày kế tiếp của ngày cuối cùng ghi trong quyết định áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm của Cơ quan điều tra.
2. Về mức tiền đặt để bảo đảm
Theo Điều 3 Thông tư liên tịch số 06, Tiền đặt để bảo đảm là Việt Nam đồng, thuộc sở hữu hợp pháp của bị can, bị cáo, người thân thích của bị can, bị cáo hoặc người đại diện của bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.
Về mức tiền đặt để bảo đảm, khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch số 06 quy định:
“1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án quyết định mức tiền cụ thể mà bị can, bị cáo phải đặt để bảo đảm, nhưng không dưới:
a) Ba mươi triệu đồng đối với tội phạm ít nghiêm trọng;
b) Một trăm triệu đồng đối với tội phạm nghiêm trọng;
c) Hai trăm triệu đồng đối với tội phạm rất nghiêm trọng;
d) Ba trăm triệu đồng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”.
Ngoài ra, đối với một số trường hợp đặt biệt quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 06 như Bị can, bị cáo là thương binh, bệnh binh, là người được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, … Bị can, bị cáo là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định mức tiền phải đặt để bảo đảm thấp hơn nhưng không dưới một phần hai (1/2) mức tương ứng quy định tại khoản 1 Điều này.
Do đó, tùy vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và nhân thân của bị can, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án sẽ cân nhắc và lựa chọn mức tiền đặt để bảo đảm phù hợp, nhưng không được thấp hơn mức tối thiểu theo quy định pháp luật.
3. Trường hợp bị can vi phạm nghĩa vụ cam đoan
Khoản 2 Điều 122 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định:
“2. Bị can, bị cáo được đặt tiền phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;
b) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;
c) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam và số tiền đã đặt bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.”.
Đồng thời khoản 4, khoản 5 Thông tư liên tịch số 01 cũng quy định:
“4. Khi có căn cứ xác định bị can vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản 2 Điều 122 của Bộ luật Tố tụng hình sự, thì Cơ quan điều tra có văn bản nêu rõ lý do, kèm theo các tài liệu xác định vi phạm của bị can và đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền hủy bỏ biện pháp đặt tiền để bảo đảm. Cơ quan điều tra phải ra lệnh bắt bị can để tạm giam và có văn bản đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn; thời hạn tạm giam trong trường hợp này không được quá thời hạn điều tra vụ án.
5. Trường hợp Viện kiểm sát có căn cứ xác định bị can vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện các thủ tục hủy bỏ biện pháp đặt tiền để bảo đảm và áp dụng biện pháp tạm giam theo quy định tại khoản 4 Điều này.”.
Do đó, khi bị can vi phạm nghĩa vụ cam đoan theo khoản 2 Điều 122 Bộ luật Tố tụng Hình sự, biện pháp đặt tiền để bảo đảm sẽ bị hủy bỏ, bị can lập tức bị bắt tạm giam, đồng thời số tiền đã đặt để bảo đảm sẽ bị tịch thu và nộp vào ngân sách nhà nước.
III. Đề xuất
Người thân thích của bị can hoặc bị can căn cứ vào Mục II Thư tư vấn này để thực hiện đề nghị đặt tiền để bảo đảm theo quy định pháp luật. Trường hợp được chấp thuận, bị can cần tuân thủ đầy đủ các nghĩa vụ cam đoan theo Giấy cam đoan để không bị áp dụng biện pháp tạm giam.
Duy Phách