BTV - Tôi cho ông A vay 500 triệu đồng, ông A có nói là có quyền sử dụng thửa đất số 1 trị giá 1 tỷ để tôi yên tâm. Hết thời hạn vay,ông A vẫn không thanh toán cho tôi. Tôi đã khởi kiện,Toà án đã ra bản án quyết định nghĩa vụ trả nợ của ông A. Tôi có đơn yêu cầu thi hành án và đã ban hành quyết định cưỡng chế tài sản của ông A nhưng giấy chừng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD) thửa đất số 1 đã được chỉnh lý sang tên người khác.
Tôi cần làm gì để lấy lại tài sản? Hành vi tẩu tán tài sản của ông A có dấu hiệu hình sự không?
Căn cứ nội dung bạn đọc hỏi, Luật sư Hoàng Thị Ngọc Minh (Đoàn Luật sư Bắc Ninh), Công ty Luật TNHH QR Law, phường Bắc Giang, tỉnh Bắc Ninh tư vấn về nội dung này như sau:

Luật sư Hoàng Thị Ngọc Minh
Đối với trường hợp của bạn, sau khi bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì việc quan trọng đầu tiên cần thực hiện là nộp đơn yêu cầu thi hành án tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền theo quy định tại Luật Thi hành án dân sự.
Sau khi nhận được đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án sẽ tiến hành xác minh điều kiện thi hành án, xác minh tài sản của người phải thi hành án để thực hiện việc kê biên, xử lý tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả nợ.
Tuy nhiên, trong trường hợp của bạn, nếu ông A đã chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 1 cho người khác thì cần xem xét tính hợp pháp của giao dịch chuyển nhượng này. Theo Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Khi các bên xác lập giao dịch dân sự …nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu.”
Như vậy, nếu có căn cứ cho rằng việc ông A chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ nhằm mục đích tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho bạn thì bạn có quyền khởi kiện đến Tòa án yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu.
Trong thực tiễn, một số dấu hiệu thường được Toà án xem xét để đánh giá giao dịch có nhằm trốn tránh nghĩa vụ hay không như:
Nếu Tòa án đủ căn cứ tuyên giao dịch chuyển nhượng vô hiệu thì quyền sử dụng đất có thể được khôi phục lại tình trạng ban đầu để cơ quan thi hành án tiếp tục kê biên, xử lý nhằm đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho bạn.
Theo quan điểm của luật sư, hành vi của ông A đã có dấu hiệu của tội “Không chấp hành án” theo quy định tại Điều 380 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bởi lẽ, Tòa án đã ban hành bản án có hiệu lực pháp luật buộc ông A phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bạn. Sau đó, bạn đã nộp đơn yêu cầu thi hành án và cơ quan thi hành án đã ban hành quyết định cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trước hoặc trong quá trình tổ chức thi hành án, ông A lại thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 1 cho người khác, dẫn đến việc tài sản đã bị chỉnh lý sang tên và cơ quan thi hành án không thể xử lý để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ.
Theo Điều 380 Bộ luật Hình sự: “Người nào có điều kiện mà không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật… mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”
Đồng thời, khoản 2 Điều luật này quy định trường hợp “tẩu tán tài sản” là tình tiết định khung tăng nặng với mức hình phạt từ 02 năm đến 05 năm tù.
Trong vụ việc này, có thể thấy ông A là người có điều kiện thi hành án vì trước đó đang sở hữu quyền sử dụng thửa đất có giá trị khoảng 1 tỷ đồng. Tuy nhiên, thay vì thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo bản án, ông A lại chuyển nhượng tài sản cho người khác đúng thời điểm cơ quan thi hành án đang tổ chức thi hành án và đã ban hành quyết định cưỡng chế. Hành vi này có dấu hiệu của việc cố ý chuyển dịch tài sản nhằm làm mất khả năng xử lý tài sản để trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.
Ngoài ra, cơ quan điều tra cũng sẽ xem xét thêm các yếu tố như thời điểm chuyển nhượng, mối quan hệ giữa ông A và người nhận chuyển nhượng, việc có hay không thanh toán thực tế, giá chuyển nhượng có phù hợp thực tế hay không, cũng như việc sau khi sang tên ông A có tiếp tục quản lý, sử dụng tài sản hay không. Nếu có căn cứ xác định việc chuyển nhượng chỉ nhằm mục đích đối phó, che giấu tài sản hoặc cản trở hoạt động thi hành án thì đây là căn cứ quan trọng để xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông A về tội “Không chấp hành án”.
Do đó, trong trường hợp này, bạn có thể làm đơn tố giác gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra để đề nghị xem xét xử lý hành vi có dấu hiệu phạm tội của ông A theo Điều 380 Bộ luật Hình sự.
Duy Phách