BTV-Bạn đọc Báo và phát thanh, truyền hình Bắc Ninh có hỏi: Theo quy định của pháp luật, trường hợp nào bị hủy kết hôn? Pháp luật có quy định về nơi đăng ký kết hôn không? Xin Luật sư tư vấn giúp!
Căn cứ vào nội dung bạn đọc Báo và Phát thanh, Truyền hình Bắc Ninh hỏi: Luật sư Nguyễn Thị Phong Lan (Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội), Giám đốc Công ty Luật TNHH Intelico có tư vấn với nội dung như sau:

Luật sư Nguyễn Thị Phong Lan
I. Căn cứ
- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Nghị định 120/2025/NĐ-CP;
II. Ý kiến pháp lý
1. Về huỷ kết hôn trái pháp luật
1.1. Thẩm quyền xử lý kết hôn trái pháp luật
Toà án có thẩm quyền xử lý kết hôn trái pháp luật theo Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
1.2. Các trường hợp huỷ kết hôn trái pháp luật
Căn cứ Điều 5, Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Toà án sẽ huỷ kết hôn trái pháp luật trong các trường hợp như sau:
a) Nam chưa đủ 20 hoặc nữ chưa đủ 18 tuổi;
b) Nam hoặc nữ không tự nguyện do bị ép buộc, lừa dối;
c) Nam hoặc nữ mất năng lực hành vi dân sự.
d) Nam hoặc nữ nếu vi phạm điều cấm như: kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; vi phạm chế độ một vợ một chồng; cận huyết thống (cùng dòng máu trực hệ, có họ trong ba đời); hoặc kết hôn giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, cha dượng, mẹ kế với con riêng, cha mẹ chồng, vợ với con dâu, rể.
Lưu ý: Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính. Việc tổ chức lễ cưới, nghi lễ tôn giáo hoặc phong tục tập quán không làm phát sinh quan hệ hôn nhân hợp pháp nếu các bên chưa đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
1.3. Người có quyền yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật
- Trường hợp 1: Đối với trường hợp quy định tại điểm a, c, d tiểu mục 1.2, mục 1 phần III Văn bản này, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật:
+ Vợ, chồng của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cha, mẹ, con, người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật khác của người kết hôn trái pháp luật;
+ Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
+ Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
+ Hội liên hiệp phụ nữ.
Ngoài ra, cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện việc kết hôn trái pháp luật có quyền đề nghị Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ yêu cầu Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật.
-Trường hợp 2: Đối với trường hợp điểm b tiểu mục 1.2, mục 1 phần III Văn bản này, nam hoặc nữ bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn có quyền tự mình yêu cầu Toà án huỷ việc kết hôn trái pháp luật. Hoặc đề nghị cá nhân, tổ chức nêu tại trường hợp 1 nêu trên yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.
1.4. Hậu quả pháp lý của việc huỷ kết hôn trái pháp luật
Căn cứ Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, hậu quả pháp lý của việc huỷ kết hôn trái pháp luật như sau:
- Hai bên kết hôn phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.
- Quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn.
- Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 16 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, cụ thể: được giải quyết theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật nếu không có thoả thuận. Việc giải quyết phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.
2. Về nơi đăng ký kết hôn
- Đối với trường hợp kết hôn không có yếu tố nước ngoài
Căn cứ Điều 17 Luật Hộ tịch năm 2014, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn.
- Đối với trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài
Theo quy định tại Điều 37 Luật Hộ tịch năm 2014, Điều 4 Nghị định 120/2025/NĐ-CP, kể từ ngày 01/7/2026, Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn đối với trường hợp có yếu tố nước ngoài.
Lưu ý: Đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền được xử lý như sau: Trong trường hợp việc đăng ký kết hôn không đúng thẩm quyền thì khi có yêu cầu, cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật về hộ tịch và yêu cầu hai bên thực hiện lại việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong trường hợp này, quan hệ hôn nhân được xác lập từ ngày đăng ký kết hôn trước (Điều 13 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014)
III. Đề xuất
Căn cứ các quy định pháp luật nêu trên, Quý Khách hàng cần:
- Xác định đúng trường hợp kết hôn của mình để lựa chọn cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn;
- Trường hợp có căn cứ cho rằng việc kết hôn thuộc trường hợp kết hôn trái pháp luật thì xem xét chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật theo quy định pháp luật. Chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu chứng minh nhằm bảo đảm việc giải quyết của cơ quan có thẩm quyền được thực hiện đúng quy định.
Duy Phách