Tiềm năng văn hóa phong phú, đội ngũ sáng tạo ngày càng đông đảo, song điều đó không đồng nghĩa với việc nguồn "tài nguyên" được bảo vệ, khai thác tương xứng. Bản quyền tại Việt Nam cần được quan tâm, sâu sát hơn nữa khi xây dựng Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.

Hội thảo lấy ý kiến góp ý Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa khu vực miền bắc. (Ảnh: VIỆT HÙNG)
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức lấy ý kiến đóng góp rộng rãi, từ ngày 5 đến 24/8, để tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và trình Quốc hội xem xét vào kỳ họp tháng 10/2026.
Một trong những nguyên nhân được nhận diện khi xây dựng Dự thảo là các quy định hiện hành còn phân tán, chưa tạo được cơ chế kết nối thông suốt từ sáng tạo, quyền sở hữu trí tuệ, vốn, sản xuất, phân phối đến doanh thu, tái đầu tư và xuất khẩu. Trong chuỗi đó, bản quyền bên cạnh câu chuyện bảo vệ tác giả, còn là điều kiện để tác phẩm trở thành tài sản, được đầu tư, lưu thông và tạo ra giá trị.
Sau 12 năm triển khai các chủ trương về phát triển công nghiệp văn hóa, tỷ trọng lĩnh vực này trong GDP giai đoạn 2018-2025 ước đạt khoảng 4-5%, còn cách khá xa mục tiêu tối thiểu 7% vào năm 2030.
Tại hội thảo lấy ý kiến Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa khu vực phía nam tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh trong tháng 8/2026, Thứ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng cho rằng: Việc xây dựng Luật cần tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn về tài sản trí tuệ, nhân lực, hạ tầng, thị trường, tài chính và đầu tư, tạo điều kiện để doanh nghiệp, người sáng tạo tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa.

Các đại biểu tích cực đóng góp ý kiến xây dựng Dự thảo Luật. (Ảnh: VIỆT HÙNG)
Đây cũng là tinh thần xuyên suốt của dự thảo khi xác định quá trình chuyển bản sắc văn hóa thành tài sản trí tuệ, chuyển tài sản trí tuệ thành dòng tiền tạo ra giá trị kinh tế. Dự thảo Luật gồm 9 chương, 60 điều, tiếp cận theo chuỗi từ sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu dùng đến tái đầu tư; trong đó tài sản trí tuệ, chủ thể sáng tạo và doanh nghiệp được đặt ở vị trí trung tâm.
Vấn đề đặt ra là muốn chuyển tác phẩm thành tài sản và từ tài sản tạo ra dòng tiền, trước hết phải xác lập được quyền đối với tài sản ấy. Tác phẩm văn học sau khi được xuất bản không nhất thiết dừng lại ở một cuốn sách, mà hoàn toàn có thể được chuyển thể thành phim, sân khấu, sách nói, sách điện tử, dịch ra nhiều ngôn ngữ hoặc khai thác trên các nền tảng số.
Tương tự, các ca khúc có thể được sử dụng trong chương trình biểu diễn, phim ảnh, quảng cáo và các nền tảng trực tuyến. Một hình tượng văn hóa có thể trở thành chất liệu cho thiết kế, thời trang, hoạt hình, trò chơi điện tử hay sản phẩm du lịch. Mỗi lần chuyển đổi hình thức khai thác là một lần giá trị của tác phẩm có thể được gia tăng và cũng thêm lần quyền tác giả, quyền liên quan và quyền khai thác cần được xác định rõ.
Nếu không giải quyết tốt vấn đề này, chính những mắt xích tạo ra giá trị gia tăng lại có thể trở thành nơi phát sinh tranh chấp. Bởi vậy, bản quyền cần được nhìn nhận trong toàn bộ vòng đời của một sản phẩm văn hóa. Bảo vệ tác phẩm khỏi sao chép trái phép là yêu cầu căn bản, nhưng vẫn chưa đủ.

Đại biểu chia sẻ về những điểm nghẽn cần tháo gỡ, tính khả thi của các chính sách tại hội thảo khu vực phía nam. (Ảnh: NHẬT NAM)
Tại hội thảo lấy ý kiến góp ý Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa khu vực phía bắc ở Hà Nội cũng diễn ra trong tháng 8/2026, vấn đề tiếp tục được đặt ra cụ thể hơn. Dự thảo đề xuất cơ chế mã định danh, hồ sơ tài sản trí tuệ số, sử dụng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm, đồng thời nghiên cứu sàn giao dịch tài sản trí tuệ và sản phẩm văn hóa.
Các cơ chế này, nếu được thiết kế chặt chẽ, có thể mở hướng đi để tài sản sáng tạo vừa được ghi nhận về mặt pháp lý, đồng thời khả năng tham gia vào các quan hệ kinh tế. Các đơn vị tư nhân cũng đánh giá cao cách tiếp cận của dự thảo khi xem công nghiệp văn hóa như hệ thống kinh tế, xác lập chuỗi giá trị từ sáng tạo đến tái đầu tư và liên kết chính sách văn hóa với thị trường, tài chính, công nghệ và sở hữu trí tuệ.
Từ góc độ này, một trong những yêu cầu quan trọng của Luật là làm sao để tài sản trí tuệ có giá trị lớn hơn. Muốn như vậy, cần cơ chế xác định quyền sở hữu, quyền khai thác, phương thức cấp phép và phân chia lợi ích thì rất khó thu hút nguồn vốn. Khi quyền được xác lập rõ, tài sản trí tuệ có thể trở thành cơ sở để các bên đàm phán, hợp tác, đầu tư và phát triển sản phẩm mới.

Bà Huỳnh Ngọc Vân, Giám đốc Bảo tàng Áo Dài đề nghị dự thảo Luật quan tâm đầy đủ hơn đến vai trò của hệ thống bảo tàng trong phát triển công nghiệp văn hóa. (Ảnh: NHẬT NAM)
Tại hội thảo khu vực phía bắc, Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Đại, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh lưu ý dự thảo có phạm vi điều chỉnh rộng, do đó cần phân định rõ các khái niệm để tránh chồng chéo với những luật liên quan, trong đó có Luật Sở hữu trí tuệ. Ý kiến này đặc biệt đáng chú ý bởi công nghiệp văn hóa liên quan đồng thời đến nhiều lĩnh vực pháp luật; nếu ranh giới giữa các quy định không rõ, chính sách mới có thể tạo thêm thủ tục thay vì tháo gỡ điểm nghẽn.
Từ câu chuyện của bản quyền có thể thấy vấn đề rộng hơn, đó là công nghiệp văn hóa muốn phát triển không thể chỉ dựa vào việc tạo ra sản phẩm mà cần hình thành được thị trường cho quyền khai thác sản phẩm.
Bà Phan Thị Diệu Hoa, Trưởng phòng Pháp chế CJ CGV Việt Nam, đề xuất hoàn thiện cơ chế pháp lý để doanh nghiệp điện ảnh có thể phát triển và đa dạng hóa hoạt động; trong đó có việc đơn giản hóa thủ tục đối với hợp đồng hợp tác kinh doanh trong sản xuất phim, rút ngắn thời gian xử lý và thống nhất tiêu chí thẩm định.
Bà cũng đề nghị mở rộng chức năng hệ thống rạp chiếu phim để có thể phổ biến livestream, hòa nhạc, biểu diễn nghệ thuật, thể thao, eSports và nội dung số với cơ chế quản lý phù hợp.
Điểm đáng quan tâm là dự thảo đã bắt đầu đặt tài sản trí tuệ vào những quan hệ kinh tế cụ thể. Việc nghiên cứu hồ sơ tài sản trí tuệ số, mã định danh, định giá, tài sản bảo đảm hay sàn giao dịch tài sản trí tuệ cho thấy cách tiếp cận đang được mở rộng: từ bảo vệ quyền sang tạo điều kiện để quyền được lưu thông và tạo giá trị. Dù vậy, đây cũng là những vấn đề đòi hỏi quy định rất chặt chẽ.
Tài sản trí tuệ là loại tài sản đặc thù, giá trị phụ thuộc nhiều vào khả năng khai thác, thị trường, thời gian và uy tín của tác giả hoặc thương hiệu. Nếu định giá thiếu cơ sở, cơ chế giao dịch thiếu minh bạch hoặc trách nhiệm của các bên không được xác định rõ, những chính sách nhằm khơi thông nguồn lực có thể phát sinh rủi ro. Do đó, cần thiết phải lựa chọn những cơ chế thực sự có khả năng vận hành trong thực tế, bảo đảm quyền lợi của người sáng tạo, đồng thời tạo niềm tin cho doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Các ý kiến đa chiều của cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hội nghề nghiệp, chuyên gia và nhà khoa học đã được tiếp thu, trong đó những nội dung còn cách hiểu khác nhau cần tiếp tục được làm rõ để bảo đảm tính khả thi, đồng bộ của dự thảo.
Theo giới chuyên môn, trong nền kinh tế sáng tạo, bảo vệ bản quyền cần được nhìn nhận như một phần của chính sách phát triển, chứ không chỉ là biện pháp xử lý khi quyền đã bị xâm phạm. Một nền công nghiệp văn hóa mạnh cần bộc lộ rõ qua khả năng hình thành thị trường trong đó sáng tạo được tôn trọng, tài sản trí tuệ được bảo vệ, quyền được khai thác và lợi ích được phân chia hợp lý.
Bởi lẽ đó, bảo vệ bản quyền cũng chính là bảo vệ nguồn lực sáng tạo của đất nước, tạo niềm tin cho thị trường và mở đường để những giá trị văn hóa Việt Nam được chuyển hóa thành sức mạnh kinh tế và sức mạnh mềm trong giai đoạn phát triển mới.
Theo Thụy Phương/ Nhân Dân
https://nhandan.vn/bao-ve-ban-quyen-khoi-thong-nguon-luc-cong-nghiep-van-hoa-post982763.html