205
/
198798
Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet-va-trien-khai-nghi-quyet-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-kinh-te-co-von-dau-tu-nuoc-ngoai
news

Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Thứ 3, 30/06/2026 | 08:48:35
193 lượt xem

Sáng 30/6, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài- Ảnh 1.

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài diễn ra sáng 30/6 - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Hội nghị có sự tham dự của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước và được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối từ điểm cầu chính từ Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội đến các điểm cầu của các bộ, ngành, địa phương.

Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài nêu rõ: Sau gần 40 năm đổi mới và mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã không ngừng phát triển, không chỉ bổ sung nguồn lực đầu tư quan trọng, mà còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực, mở rộng thị trường xuất khẩu, từng bước đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, tiếp nhận công nghệ, phương thức quản trị tiên tiến.

Tuy nhiên, chất lượng và hiệu quả thu hút, quản lý, sử dụng đầu tư nước ngoài chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đáp ứng được những yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới của đất nước. Tỷ lệ dự án thâm dụng lao động, tài nguyên, đất đai, năng lượng, gia công, lắp ráp còn cao; tỷ lệ nội địa hóa, giá trị tăng thêm hình thành ở Việt Nam còn thấp; liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước chưa cao, chuyển giao công nghệ còn hạn chế; còn hiện tượng cạnh tranh thu hút đầu tư theo số lượng ở một số địa phương.

Dòng vốn đầu tư gián tiếp còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng thị trường. Hoạt động góp vốn, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp của các quỹ đầu tư, định chế tài chính toàn cầu, nhà đầu tư nước ngoài còn hạn chế, quản lý thiếu chặt chẽ.

Trong bối cảnh Việt Nam đang xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, việc thu hút và phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước.

Nghị quyết nhấn mạnh quan điểm chỉ đạo là: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, không chỉ góp phần bổ sung vốn trung và dài hạn cho đầu tư phát triển mà còn là kênh tiếp nhận công nghệ tiên tiến, phương thức quản trị hiện đại, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giúp mở rộng thị trường; được Nhà nước khuyến khích phát triển lâu dài, đối xử bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh với các khu vực kinh tế khác theo quy định của pháp luật.

Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gắn với yêu cầu nâng cao hiệu quả, năng lực tự chủ chiến lược, sức cạnh tranh của nền kinh tế, mở rộng mạng lưới thị trường, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng toàn cầu; đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng, an ninh, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng, giá trị gia tăng,… làm tiêu chí chủ yếu; chuyển dần từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết, bao gồm quản trị cả vòng đời dự án và kết nối với doanh nghiệp trong nước.

Phát triển đồng bộ, thống nhất hệ sinh thái đầu tư nước ngoài, gắn với chiến lược phát triển doanh nghiệp trong nước, phát triển thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo, hạ tầng logistics, dữ liệu, năng lượng; khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài hình thành trụ sở khu vực và các trung tâm điều hành, nghiên cứu, thiết kế, dịch vụ của khu vực.

Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư nước ngoài; bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, ổn định, nhất quán, chi phí tuân thủ thấp, có khả năng dự báo cao, phù hợp với thông lệ quốc tế, nâng cao năng lực cạnh tranh trong khu vực và toàn cầu. Bảo đảm cơ chế đối thoại, tiếp nhận, xử lý kịp thời kiến nghị, khiếu nại trên nguyên tắc hài hòa lợi ích giữa các bên; xử lý tranh chấp đầu tư theo quy định của pháp luật; khuyến khích các bên tự hòa giải, thông qua cơ chế hòa giải thương mại và trọng tài thương mại.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, kiến tạo của Nhà nước; nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều phối quốc gia; phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương trên cơ sở thống nhất chiến lược, quy hoạch, tiêu chí, cơ chế giám sát; lấy kết quả đóng góp thực chất làm thước đo chủ yếu trong thu hút, quản lý và sử dụng đầu tư nước ngoài.

Mục tiêu tổng quát được Nghị quyết xác định là: Đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao cho đầu tư phát triển. 

Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan tỏa với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu; góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng cường năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia; tạo động lực quan trọng thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045.

Theo Nguyễn Hoàng/Báo Điện tử Chính phủ

https://baochinhphu.vn/truc-tiep-hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet-va-trien-khai-nghi-quyet-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-kinh-te-co-von-dau-tu-nuoc-ngoai-102260629203819351.htm


  • Từ khóa

Kinh tế-xã hội 7 tháng: Nhiều ngành, lĩnh vực duy trì xu hướng tích cực

Báo cáo tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7/2026, diễn ra chiều 3/8, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết từ đầu năm đến nay, nhiều ngành,...
15:53 - 03/08/2026
394 lượt xem

Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí

Sáng 3/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội nghe Bộ trưởng Công thương Lê Mạnh...
14:11 - 03/08/2026
419 lượt xem

Trình Quốc hội cơ chế đặc thù xử lý vi phạm liên quan kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân

Việc ban hành Nghị quyết nhằm tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, không tham nhũng, lãng phí, tiêu...
13:43 - 03/08/2026
593 lượt xem

Đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; phù hợp với mô hình...
13:37 - 03/08/2026
560 lượt xem

Đơn giản thủ tục, đẩy mạnh chuyển đổi số trong giải quyết bồi thường Nhà nước

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong việc giải quyết yêu cầu bồi thường của Nhà nước; đồng thời...
13:29 - 03/08/2026
641 lượt xem
pixel