Các đại biểu Quốc hội đánh giá cao sự chỉ đạo, điều hành chủ động, quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng như sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và nhân dân cả nước; cho rằng đây là nền tảng quan trọng để tăng tốc, bứt phá, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
![]()
Phiên thảo luận tại Tổ 03 Quốc hội có sự tham dự của Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc và đại biểu Quốc hội của các đoàn: Hải Phòng, Lạng Sơn, Hà Tĩnh. Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Chiều 18/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, các đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ về 4 nhóm nội dung chính.
Cụ thể, các đại biểu thảo luận về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến Kế hoạch năm 2027; tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2026, dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2027 và tình hình thực hiện kế hoạch đầu tư công năm 2026, dự kiến kế hoạch đầu tư công năm 2027; quyết toán ngân sách nhà nước năm 2025; tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 66/2013/QH13 ngày 29/11/2013 của Quốc hội và kết thúc đầu tư xây dựng dự án đường Hồ Chí Minh quy mô hai làn xe.
Tham dự phiên thảo luận tại Tổ 03 có Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cùng các đại biểu Quốc hội thuộc các Đoàn Hải Phòng, Lạng Sơn và Hà Tĩnh.
![]()
Đại biểu Nguyễn Thị Mai Thoa (Đoàn Hải Phòng). Ảnh: chinhphu.vn/DA
Đóng góp ý kiến tại phiên thảo luận Tổ 03, các đại biểu Quốc hội đánh giá cao sự chỉ đạo, điều hành chủ động, quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cùng sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và nhân dân cả nước; cho rằng đây là nền tảng quan trọng để tăng tốc, bứt phá, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Các đại biểu cũng cơ bản tán thành, đánh giá cao Báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến Kế hoạch năm 2027 do Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng trình bày tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI.
Theo các đại biểu, Báo cáo đã làm rõ nhiều nội dung quan trọng, giúp Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và nhân dân có cái nhìn toàn diện hơn về những khó khăn, thách thức cũng như kết quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đồng thời, các đại biểu đóng góp nhiều ý kiến nhằm tiếp tục hoàn thiện Báo cáo, đề xuất những giải pháp phù hợp, khả thi, sát thực tiễn để hoàn thành các mục tiêu đề ra.
Tháo gỡ điểm nghẽn trong kết nối, chia sẻ dữ liệu
Góp ý về lĩnh vực xã hội, đại biểu Nguyễn Thị Mai Thoa (Hải Phòng) bày tỏ nhất trí với đánh giá của Chính phủ về kết quả thực hiện các chính sách phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Theo đại biểu, kế hoạch 100 ngày cao điểm xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số đang được tích cực triển khai. Nhiều chính sách đã đi vào cuộc sống, tạo chuyển biến tích cực trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, góp phần giải quyết những vấn đề lớn đặt ra trong quá trình phát triển đất nước.
Đại biểu Nguyễn Thị Mai Thoa đánh giá, Nhà nước đã quan tâm ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Các nguồn lực đầu tư đang từng bước phát huy hiệu quả, góp phần đẩy nhanh việc giải quyết thủ tục hành chính và nâng cao hiệu quả hoạt động trong nhiều lĩnh vực.
Tuy nhiên, đại biểu cũng lưu ý việc kết nối, liên thông, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước vẫn còn bất cập, chưa được giải quyết đồng bộ ở nhiều ngành, lĩnh vực và địa phương.
Theo đó, trong công tác quản lý, điều hành và phân cấp quản trị dữ liệu cho các địa phương, cần đặt ra yêu cầu chặt chẽ hơn về tính thống nhất, đồng bộ và khả năng liên thông của các hệ thống ngay từ khâu thiết kế. Việc sớm khắc phục những hạn chế này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát, tiết kiệm nhân lực, thời gian và kinh phí phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Dẫn chứng trong lĩnh vực y tế, đại biểu Nguyễn Thị Mai Thoa cho biết, việc triển khai sổ sức khỏe điện tử tại một số địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp khó khăn do hệ thống máy tính cũ, cấu hình thấp, đường truyền internet chưa ổn định.
Trong khi đó, cán bộ y tế cấp xã vừa phải thực hiện nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh, vừa đảm nhận công việc nhập liệu thủ công. Một bộ phận cán bộ y tế cơ sở chưa được tập huấn chuyên sâu về công nghệ thông tin và quản trị dữ liệu.
Không chỉ ở miền núi, vùng khó khăn, tại nhiều địa phương, kể cả các thành phố lớn, việc quản lý, kết nối và chia sẻ thông tin người bệnh giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, trung tâm y tế khu vực và trạm y tế nơi cư trú chưa được thực hiện đồng bộ.
Việc chuyển giao danh sách, thông tin người bệnh chưa đầy đủ; dữ liệu còn phân tán giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và các hệ thống thông tin. Cơ chế chuyển giao, tiếp nhận, phản hồi thông tin cũng như trách nhiệm theo dõi, quản lý người bệnh sau chuyển giao chưa được thực hiện thống nhất.
Theo đại biểu, tình trạng này gây khó khăn trong việc xác định đầy đủ, chính xác số người bệnh đang được quản lý, số trường hợp mới phát hiện, số đang điều trị và kết quả kiểm soát bệnh; đồng thời ảnh hưởng đến công tác lập kế hoạch, tổ chức can thiệp và quản lý người bệnh lâu dài tại cộng đồng.
Đối với lĩnh vực văn hóa, đại biểu cho biết việc ứng dụng công nghệ số trong giới thiệu, quảng bá, hỗ trợ quản lý di tích, thư viện, bảo tàng đã từng bước được triển khai thông qua xây dựng cơ sở dữ liệu, cung cấp thông tin bằng mã QR tại một số thiết chế văn hóa cơ sở.
Tuy nhiên, các ứng dụng và dữ liệu còn phân tán, chưa được kết nối, khai thác đồng bộ. Do đó, cần tiếp tục chuẩn hóa dữ liệu, tăng cường kết nối, chia sẻ và cập nhật thông tin giữa các cơ quan, đơn vị trong ngành, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý và khai thác các nguồn dữ liệu văn hóa.
![]()
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Hải Phòng). Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc
Gắn phát triển nguồn nhân lực với cơ hội việc làm và an sinh xã hội
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Hải Phòng) tập trung góp ý về hai vấn đề: phát triển nguồn nhân lực gắn với cơ hội việc làm và bảo đảm thành quả tăng trưởng kinh tế được chuyển hóa thành những cải thiện thiết thực trong đời sống người dân.
Về phát triển nguồn nhân lực, đại biểu đề nghị có những giải pháp cụ thể hơn nhằm kết nối người lao động, đặc biệt là thanh niên, với cơ hội học tập, đào tạo và tìm kiếm việc làm.
Theo đại biểu, mục tiêu tăng trưởng cao, phát triển công nghệ và nâng cao năng suất lao động đặt ra yêu cầu rất lớn về chất lượng nguồn nhân lực. Trong khi đó, báo cáo phối hợp thẩm tra của Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cũng chỉ ra những vấn đề cần quan tâm hơn về chất lượng việc làm, khả năng đáp ứng yêu cầu kỹ năng và cơ hội việc làm của thanh niên.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng, cần quan tâm đầy đủ hơn đến nhóm thanh niên không có việc làm, không tham gia học tập hoặc đào tạo trong quá trình đánh giá chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội những năm tới.
Theo đại biểu, người trẻ không tham gia học tập, đào tạo và làm việc trong thời gian dài có nguy cơ mai một kỹ năng, thiếu kinh nghiệm và giảm sự tự tin. Việc hỗ trợ sớm sẽ giúp họ có thêm cơ hội phát triển, đồng thời bổ sung nguồn nhân lực cho nền kinh tế.
Đại biểu nhấn mạnh cần nhìn nhận đầy đủ hoàn cảnh của nhóm thanh niên này, tránh đơn giản quy nguyên nhân thành tâm lý ngại học, ngại làm. Có người chưa tìm được công việc phù hợp, có người thiếu kỹ năng, phải chăm sóc con nhỏ hoặc người thân, gặp khó khăn về sức khỏe, điều kiện kinh tế, hoặc nản lòng sau nhiều lần tìm việc không thành công. Mỗi hoàn cảnh cần có phương thức hỗ trợ phù hợp.
Dẫn khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về nhận diện, chủ động tiếp cận và kết nối những người trẻ không tham gia học tập, đào tạo hoặc chưa có việc làm, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga kiến nghị Chính phủ quan tâm chỉ đạo bốn nhóm giải pháp cụ thể.
Thứ nhất, xác định rõ đầu mối tiếp cận và hỗ trợ thanh niên. Đại biểu đề nghị Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các địa phương và tổ chức Đoàn xây dựng cơ chế nhận diện nhu cầu trên cơ sở khai thác dữ liệu hiện có, kết hợp tiếp cận tại cộng đồng, hạn chế phát sinh thêm các chế độ báo cáo và cơ sở dữ liệu riêng lẻ.
Các trung tâm dịch vụ việc làm cần có cơ chế phối hợp với cấp xã, trường học và tổ chức Đoàn để chủ động tiếp cận người cần hỗ trợ, nhất là những thời điểm dễ xảy ra gián đoạn như sau khi rời trường, tốt nghiệp nhưng chưa tìm được việc làm hoặc bị mất việc. Việc thu thập thông tin phải phục vụ mục tiêu hỗ trợ đúng nhu cầu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và tôn trọng người được tiếp cận.
Thứ hai, xây dựng lộ trình hỗ trợ phù hợp với từng nhóm đối tượng. Người thiếu kỹ năng cần được tư vấn, đào tạo nghề sát với nhu cầu tuyển dụng; người đã có chuyên môn nhưng chưa tìm được việc làm cần được hỗ trợ kỹ năng ứng tuyển, trải nghiệm nghề nghiệp và kết nối với doanh nghiệp.
Đối với người phải chăm sóc gia đình, cần tạo điều kiện tiếp cận lịch học linh hoạt, dịch vụ giữ trẻ hoặc việc làm phù hợp. Người gặp khó khăn về tâm lý cần được tư vấn, hỗ trợ và đồng hành.
Đại biểu đề nghị lựa chọn một số địa bàn để thí điểm cơ chế phối hợp này. Mỗi người tham gia cần được đánh giá nhu cầu, xây dựng lộ trình hỗ trợ phù hợp và có đầu mối theo dõi trong suốt quá trình thực hiện.
Thứ ba, tạo cầu nối thực chất từ đào tạo đến việc làm. Theo đại biểu, cần tăng cường đặt hàng đào tạo dựa trên nhu cầu tuyển dụng đã được xác định, khuyến khích doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình, tổ chức thực hành và đánh giá kỹ năng.
Đồng thời, nghiên cứu cơ chế hỗ trợ một phần chi phí đào tạo tại doanh nghiệp đối với thanh niên có hoàn cảnh khó khăn, gắn với các điều kiện cụ thể về hướng dẫn nghề an toàn, thời gian thực hành, thù lao phù hợp và kết quả tuyển dụng.
Các hình thức hỗ trợ phải phù hợp với độ tuổi, tránh tình trạng lợi dụng danh nghĩa thực tập để sử dụng lao động kéo dài mà không bảo đảm quyền lợi của người lao động. Đối với người có hoàn cảnh khó khăn, chính sách hỗ trợ học phí cần được xem xét cùng với chi phí đi lại, ăn ở và những điều kiện cần thiết khác, bảo đảm người học có khả năng theo học đến cùng.
Thứ tư, đánh giá hiệu quả chính sách bằng kết quả sau hỗ trợ. Đại biểu đề nghị theo dõi tỷ lệ thanh niên quay lại học tập, hoàn thành đào tạo, có việc làm và duy trì việc làm sau 6 tháng, 12 tháng, làm căn cứ điều chỉnh chương trình và phân bổ kinh phí.
Cùng với đó, cần chủ động chuẩn bị các chương trình đào tạo lại cho người lao động trong những ngành nghề chịu tác động mạnh từ sự phát triển của công nghệ. Khi doanh nghiệp xây dựng phương án chuyển đổi công nghệ cũng cần tính đến việc chuyển đổi, nâng cao kỹ năng cho người lao động.
Về bảo đảm thành quả tăng trưởng gắn với nâng cao đời sống nhân dân, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đánh giá cao những nỗ lực của Chính phủ trong cải thiện thu nhập và bảo đảm an sinh xã hội.
Theo đại biểu, để thành quả tăng trưởng được người dân cảm nhận rõ hơn trong đời sống hằng ngày, cần quan tâm đầy đủ đến thu nhập thực tế, tính ổn định của việc làm và chi phí sinh hoạt. Đối với lao động trẻ, quyết định nhận việc còn phụ thuộc vào khả năng chi trả tiền thuê nhà, đi lại, gửi con và khám bệnh, chữa bệnh. Những điều kiện này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng duy trì việc làm và gắn bó lâu dài với doanh nghiệp.
Từ đó, đại biểu đề nghị kết nối chặt chẽ quy hoạch phát triển công nghiệp, đô thị với phát triển hạ tầng xã hội. Tại những địa bàn tập trung đông lao động, việc chuẩn bị nhà ở cho thuê phù hợp với khả năng chi trả, trường học, cơ sở giữ trẻ và cơ sở y tế cần được triển khai đồng bộ với phát triển sản xuất.
Bên cạnh đó, cần bảo đảm quyền lợi an sinh xã hội của người lao động khi chuyển đổi việc làm hoặc thay đổi nơi cư trú. Tăng cường kết nối dữ liệu, đơn giản hóa thủ tục để việc thay đổi doanh nghiệp, địa bàn làm việc không làm gián đoạn các quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Đối với lao động phi chính thức và lao động trên nền tảng số, cần có phương thức tư vấn, hỗ trợ tham gia bảo hiểm phù hợp với đặc điểm thu nhập và khả năng đóng góp. Cùng với mở rộng diện bao phủ, cần tiếp tục xử lý tình trạng chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm, bảo đảm quyền lợi của người lao động khi doanh nghiệp gặp khó khăn.
Đại biểu cũng đề nghị quan tâm hơn đến khả năng phòng ngừa tái nghèo. Theo đó, một gia đình có thể rơi vào khó khăn kéo dài khi người tạo thu nhập chính mất việc, mắc bệnh hoặc phải ngừng làm việc để chăm sóc người thân. Vì vậy, chính sách hỗ trợ sinh kế cần gắn với đào tạo nghề, kết nối việc làm, y tế và các dịch vụ chăm sóc phù hợp. Đối với người không còn khả năng lao động, cần bảo đảm trợ giúp xã hội ổn định, đúng đối tượng.
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga nhấn mạnh, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao đời sống nhân dân có mối quan hệ trực tiếp với nhau. Khi người lao động có kỹ năng, cơ hội việc làm và được tiếp cận các dịch vụ thiết yếu, họ sẽ có điều kiện nâng cao năng suất, ổn định cuộc sống và đóng góp lâu dài cho sự phát triển chung.
![]()
Đại biểu Nguyễn Đặng Ân (đoàn Lạng Sơn). Ảnh: chinhphu.vn/DA
Nâng cao năng lực chính quyền cấp xã, hiệu quả thi hành pháp luật
Đại biểu Nguyễn Đặng Ân (Lạng Sơn) tập trung góp ý về hai vấn đề: vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp và nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật.
Theo đại biểu, qua thời gian triển khai, bộ máy chính quyền địa phương hai cấp đã cơ bản ổn định, hoạt động hành chính được duy trì, nhiều thủ tục được giải quyết thuận lợi hơn. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành cũng phát sinh một số khó khăn, vướng mắc cần kịp thời tháo gỡ.
Trước hết là sự chưa tương xứng giữa nhiệm vụ, thẩm quyền được giao với năng lực và điều kiện thực hiện của cấp xã. Theo đại biểu, cần tiếp tục quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng, trụ sở làm việc, nhà công vụ, các thiết chế văn hóa và cơ sở vật chất phục vụ quốc phòng, an ninh tại một số địa phương.
Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu bắt buộc, bên cạnh việc đầu tư trang thiết bị, cần quan tâm đến cơ chế vận hành và nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số. Các cơ chế, chính sách phải linh hoạt, minh bạch, nhất là trong tuyển dụng, sử dụng và thu hút nhân lực chất lượng cao.
Đại biểu Nguyễn Đặng Ân cho rằng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là nhiệm vụ lâu dài, song cần có giải pháp đáp ứng ngay những yêu cầu trước mắt thông qua cơ chế tăng cường, biệt phái cán bộ từ cấp tỉnh, thậm chí từ Trung ương về các xã trọng điểm.
Đồng thời, hoàn thiện hạ tầng dữ liệu, tăng cường kết nối, liên thông và chia sẻ dữ liệu để giảm tối đa thủ tục hành chính, phục vụ người dân, doanh nghiệp kịp thời, hiệu quả hơn.
Đối với đầu tư công, đại biểu đề nghị quan tâm bố trí nguồn lực cho cấp xã, đặc biệt là các xã vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn. Nếu không được bảo đảm nguồn lực đầu tư hạ tầng và chuyển đổi số, các địa phương này sẽ gặp nhiều hạn chế trong thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Đại biểu dẫn số liệu được Báo Điện tử Chính phủ công bố, theo đó có 859 nhiệm vụ được phân định từ cấp huyện cho cấp xã thực hiện khi vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Trong khi đó, đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, nhất là nhân lực có chuyên môn sâu về đất đai, xây dựng, tài chính, công nghệ thông tin và một số lĩnh vực chuyên ngành, còn hạn chế. Đối với các xã miền núi, biên giới, địa bàn rộng, dân cư phân tán, điều kiện đi lại khó khăn, áp lực thực hiện nhiệm vụ càng lớn.
Theo đại biểu, vấn đề đặt ra không chỉ là số lượng biên chế mà còn là cơ cấu, chất lượng và khả năng đáp ứng yêu cầu chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức.
Về công tác tổ chức thi hành pháp luật, đại biểu Nguyễn Đặng Ân đề nghị khi ban hành các chính sách, quy định mới có tác động trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp, cần đồng thời xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn thực hiện.
Cùng với đó, tăng cường trách nhiệm của các bộ, ngành trong hướng dẫn thi hành pháp luật, bảo đảm thống nhất, dễ hiểu, dễ áp dụng; hạn chế tình trạng các địa phương phải tự nghiên cứu, vận dụng hoặc chờ hướng dẫn đối với cùng một vấn đề.
Đại biểu cũng đề nghị đổi mới cách đánh giá hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật, dựa trên mức độ hiểu biết, tuân thủ pháp luật của người dân, số lượng vướng mắc phát sinh và kết quả giải quyết công việc trên thực tế, thay vì chỉ căn cứ vào số lượng hội nghị, văn bản hoặc các hoạt động tuyên truyền đã triển khai.
Nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa vận hành chính quyền địa phương hai cấp và công tác tổ chức thi hành pháp luật, đại biểu Nguyễn Đặng Ân cho rằng, chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện phần lớn các chính sách liên quan đến đời sống nhân dân. Nếu thẩm quyền chưa rõ, nhân lực chưa đáp ứng và công tác tuyên truyền, hướng dẫn chưa kịp thời thì hiệu quả thực thi chính sách sẽ bị hạn chế, dù chính sách được xây dựng tốt.
Theo Liên Hải/baochinhphu.vn
https://baochinhphu.vn/chinh-phu-da-no-luc-bao-dam-an-sinh-xa-hoi-dau-tu-phat-trien-khcn-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-doi-so-102261018171743303.htm